Tạo thuận lợi cho các nhà khoa học

Luật KHCN 2013 có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 với nhiều nội dung tháo gỡ “nút thắt” cho hoạt động KHCN. Luật KHCN năm 2013 tiếp cận những tư tưởng và nội dung mới, tạo khuôn khổ pháp lý để thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước trong hoạt động KHCN. Luật có nhiều nội dung mới, nổi bật là đổi mới về tổ chức KHCN, chính sách sử dụng và đãi ngộ cán bộ KHCN, phương thức đầu tư cho KHCN, ứng dụng kết quả nghiên cứu và phổ biến kiến thức KHCN, quản lý và sử dụng ngân sách Nhà nước cho nghiên cứu KHCN, hội nhập quốc tế về KHCN…

Trong những nội dung đó, nội dung về đổi mới quản lý và sử dụng ngân sách cho nghiên cứu KHCN có tầm quan trọng bậc nhất. Từ nay, việc quản lý và sử dụng ngân sách Nhà nước cho KHCN được thông qua Quỹ Phát triển KHCN quốc gia và các Quỹ khác về KHCN như: Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ đầu tư mạo hiểm… Trên thế giới, mô hình Quỹ phát triển KHCN được nhiều nước tiên tiến áp dụng, cho phép quản lý và sử dụng kinh phí theo phương thức khoán đến sản phẩm cuối cùng. Như vậy sẽ khắc phục được tình trạng phức tạp về thủ tục hành chính, giúp các nhà khoa học không phải bỏ quá nhiều thời gian và công sức vào những công việc này mà dành thời gian cho nghiên cứu.
Bên cạnh đó, nội dung về phương thức đầu tư cho KHCN cũng rất quan trọng bởi đây là cơ sở để phân bổ ngân sách Nhà nước cho KHCN dựa theo nhu cầu thực tiễn; kết quả sử dụng ngân sách đã được phân bổ của năm trước sẽ là cơ sở để phân bổ kinh phí cho KHCN của năm sau. Do vậy, việc sử dụng ngân sách Nhà nước cho KHCN sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

Các cơ sở KHCN, các nhà khoa học rất kỳ vọng vào những cơ chế mới mà Luật KHCN 2013 đã đặt ra. Trên thực tế, Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan chức năng mà cụ thể là Bộ KHCN đã nhanh chóng triển khai đưa Luật KHCN vào cuộc sống. Đầu tiên phải kể đến 6 Nghị định đã được Chính phủ thông qua cùng nhiều Thông tư hướng dẫn do các Bộ ban hành nhằm đảm bảo Luật được thực thi nhanh chóng và hiệu quả.

Về nội dung đổi mới tổ chức KHCN, việc kiện toàn, sắp xếp lại tổ chức và đổi mới hoạt động của các cơ sở KHCN cũng được quan tâm. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp KHCN đã tích cực triển khai hoạt động theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện các nhiệm vụ KHCN theo cơ chế đặt hàng. Đặc biệt, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia ra mắt gần đây sẽ mở thêm cơ hội cho các tổ chức KHCN và các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, do Luật mới ban hành nên sự thay đổi về nhận thức, tiếp cận những nội dung tiến bộ của Luật trong các tổ chức KHCN vẫn chưa mạnh mẽ, sức ỳ còn lớn. Ông cha ta có câu “vạn sự khởi đầu nan” nên bước đi đầu tiên lúc nào cũng có những khó khăn nhất định và cần phải quyết liệt hơn nữa.
Bên cạnh Luật KHCN 2013 và Hiến pháp 2013, Quốc hội đã ban hành nhiều luật sửa đổi, bổ sung liên quan đến ngân sách, đầu tư, kinh doanh… nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về KHCN. Nhưng luật đã được ban hành trước đây như: Bộ Luật dân sự, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Công nghệ cao, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa… cũng cần được nghiên cứu, sửa đổi theo tinh thần của Hiến pháp mới. Công việc này đòi hỏi sự nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, có hệ thống, nội dung và lộ trình phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước.

Nhìn lại các luật được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thì thấy có nhiều tác động lớn đến sự phát triển KHCN nước nhà. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 đã hiến định nhiều chủ trương, đường lối của Đảng trong tình hình mới, tiếp tục khẳng định, KHCN là quốc sách hàng đầu. Để khẳng định rõ quan điểm tự do sáng tạo, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền nghiên cứu KHCN, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”. Quy định này đã nâng tầm của KHCN và sáng tạo trong KHCN đã trở thành “quyền” của con người, khẳng định mọi người được tự do nghiên cứu khoa học, tự do tìm tòi, suy nghĩ để đưa ra các phát minh, sáng chế, sáng kiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tạo ra các sản phẩm công nghệ. Quy định mang tính hiến định này có ý nghĩa hết sức quan trọng, là động lực để phát huy trí tuệ, sức sáng tạo của con người Việt Nam. Trên thực tế, người dân Việt Nam có rất nhiều sáng tạo, sáng kiến đáng trân trọng, biểu dương và cần phát huy. Điều quan trọng là các cơ quan quản lý, các đơn vị nghiên cứu cần lắng nghe, xem xét những đề xuất, ý tưởng của người dân để hỗ trợ kịp thời, bởi không phải ai có ý tưởng sáng tạo cũng có điều kiện kinh tế để thực hiện.

Đất nước đang từng ngày đổi mới, tin tưởng rằng những vướng mắc về cơ chế, pháp luật trong lĩnh vực KHCN sẽ dần được nghiên cứu, sửa đổi và khắc phục cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Hy vọng năm 2015 và những năm tiếp theo, khi Quốc hội tiến hành sửa đổi, bổ sung những luật liên quan sẽ có nhiều cơ chế mới, điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà khoa học tập trung nghiên cứu, phát triển trí tuệ, đóng góp đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tác giả bài viết: TSKH Phan Xuân Dũng

Nguồn tin: Nguồn tin: Trí thức & Phát triển